Showing posts with label Khoa học. Show all posts
Showing posts with label Khoa học. Show all posts

Wednesday, April 20, 2011

Sự thật về Clip người ngoài hành tinh ở Nga

Một đoạn video ghi lại hình ảnh được cho là xác của một người ngoài hành tinh tại Irkutsk, miền nam Siberia đang gây ra những tranh cãi trên cộng đồng mạng.

Chỉ mới được đưa lên mạng cách đây 3 ngày, hôm 17/4, nhưng đến hôm nay, video “xác người ngoài hành tinh ở Nga” đã có tới hơn 2 triệu lượt người xem. Các công dân mạng tranh cãi nảy lửa về thông tin được cho là “không thể tin nổi” này.

Những hình ảnh trong video cho thấy một thi thể nhỏ bé, mất một chân và bị thương nặng nằm vùi trong vùng băng tuyết của Siberia. Với hai lỗ sâu hoắm trên sọ cùng với chiếc miệng há to, thi thể này trông không khác gì nhiều so với hình ảnh người ngoài hành tinh trong những bộ phim viễn tưởng của Hollywood.

Hình ảnh thi thể người ngoài hành tinh trong video lan truyền trên mạng.

Nhiều người cho rằng, xác người ngoài hành tinh này đã bị bỏ lại sau một tai nạn hoặc là bị bỏ sót sau khi các chuyên gia về người ngoài hành tinh của Nga dọn dẹp hiện trường một vụ vật thể lạ bị rơi.

Video này được đăng tải lên mạng sau thông tin về vụ một UFO xuất hiện ở Irkutsk, Siberia hồi tháng trước. Rất nhiều người dân trong khu vực khẳng định rằng, họ nhìn thấy một chòm sáng màu vàng trên bầu trời và nhiều người còn ghi lại được bằng điện thoại. Vì vậy, người ta cho rằng, thi thể người ngoài hành tinh được tìm thấy có liên quan đến vật thể lạ nói trên.

“Chúng tôi không thể tin được khi nhìn thấy nó. Điều rùng rợn là ở đây không có dấu vết của chiếc phi thuyền. Có lẽ nó đã được mang đi và thi thể này bị sót lại”, Igor Molovic, một trong 2 người tải video lên mạng nói.

Tuy nhiên, nhiều người khác lại khẳng định điều ngược lại, cho rằng đoạn video là rởm với một hình nộm giống với thi thể người ngoài hành tinh.

Hiện tại vẫn chưa có cơ quan chức năng nào lên tiếng về thông tin nói trên.

Lê Văn-tinmoi.vn

Khu bảo tồn Saola ở Việt Nam đem lại hy vọng mới cho loài thú hiếm

Saola thường bị săn bắt trái phép để lấy sừng và hiện tại có thể chỉ còn vài chục con còn sống sót.

Việc thành lập một khu bảo tồn thiên nhiên mới đây ở Việt Nam đã mang hy vọng mới cho một loài thú kỳ lạ có hai sừng đang đứng bên bờ vực tuyệt chủng, một con vật được coi là dễ thương nhất trong tất cả mọi loài thú trong một bài hát thiếu nhi của cố nhạc sĩ Shel Silverstein, đó là loài Saola. Theo bản tin của hãng thông tấn Pháp, giới hữu trách ở tỉnh Quảng Nam hồi tuần trước đã đồng ý thành lập khu bảo tồn mới nhằm bảo vệ loài saola, một trong những loài thú hiếm nhất và được tìm thấy lần đầu tiên vào năm 1992 tại Hà Tĩnh. Báo chí Việt Nam cho hay, không lâu sau khi được phát hiện, loài saola đã đối mặt với nguy cơ biến mất vĩnh viễn do số lượng quần thể ngoài tự nhiên giảm nhanh chóng. Giới chức của Quĩ bảo vệ Động vật Hoang dã, WWF, cho hay quyết định thành lập khu bảo tồn saola đã mang lại hy vọng mới cho sự tồn tại của loàn saola, một loài vật đang bên bờ vực tuyệt chủng trên thế giới”. Saola thường bị săn bắt trái phép để lấy sừng và hiện tại có thể chỉ còn vài chục con còn sống sót. Tổ chức WWF ở Việt Nam cho hay khu bảo tồn mới, nằm dọc biên giới với Lào, sẽ tạo nên một môi trường sống lý tưởng cho loài saola. Nguồn: AFP, USA Today

Tuesday, April 5, 2011

Từ tự do trên biển tới các phong trào khoanh vùng biển



Tác giả: GIÁO SƯ DAVID ROSENBERG (ĐẠI HỌC MIDDLEBURY)
Ai là quản lý Biển Đông?[2] Ai kiểm soát quyền sử dụng đối với các nguồn tài nguyên đáng kể ở khu vực này? Ai đảm bảo an toàn và an ninh cho các bên có liên quan? Ba phong trào đã nổi lên nhằm cố gắng đưa ra đáp án cho những câu hỏi này.
LTS: Quản lý, kiểm soát quyền sử dụng tài nguyên và an ninh hàng hải Biển Đông là ba vấn đề chính mà Giáo sư David Rosenberg[1], Đại học Middlebury đề cập trong bài viết của mình. Bài được đăng trên Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề: "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea - Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.
Đầu tiên, phong trào kiểm soát nguồn tài nguyên của các quốc gia ven biển muốn khẳng định và mở rộng những tuyên bố về Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1994. Với sự gia tăng dân số, nhu cầu của người tiêu dùng và khả năng của khoa học công nghệ, các quốc gia ven biển đang quan tâm đến việc quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên trong Vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Thứ hai, phong trào bảo tồ
n đã phát triển để đảm bảo cho việc sử dụng nguồn tài nguyên bền vững với môi trường và bảo tồn sự đa dạng sinh học của biển đúng như niềm tin của công chúng và không cho phép khai thác tư nhân. Thứ ba và lâu đời nhất là phong trào an ninh của các chủ thể quốc tế có lợi ích liên quan, những người muốn bảo tồn sự tự do về biển và các eo biển của Biển Đông cùng với những luồng nước quần đảo cho thương mại và tàu thủy.
Bài viết này nghiên cứu ba phong trào trên và những xu hướng thống nhất và gây chia rẽ giữa chúng[3], đồng thời đưa ra một nghịch lý: sự hội nhập khu vực đã làm tăng lên chủ nghĩa dân tộc về nguồn tài nguyên.
Phong trào kiểm soát nguồn tài nguyên

Trên 500 triệu người ở Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei và Phillippine sống trong phạm vi 100 dặm của bờ Biển Đông. Nhiều người trong số họ phụ thuộc vào biển để kiếm kế sinh nhai. Nghề cá ở vùng Biển Đông có vai trò quan trọng mang lại nguồn protein giá rẻ, kế sinh nhai và là nguồn thu nhập ngoại hối. Biển Đông còn đem lại môi trường sống và môi trường sinh sản cho thủy sản ngành tôm và cá ngừ có giá trị vào bậc nhất trên thế giới. Tỷ lệ lớn lao động ven biển cũng phụ thuộc vào môi trường biển thông qua nghề đánh bắt cá, vận tải biển, thăm dò và khai thác dầu khí và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, vui chơi giải trí và du lịch.

Khi dân số đô thị ven biển tăng và kỹ thuật đánh bắt cá được cải tiến, nhu cầu về nguồn cá ngày càng tăng lên đáng kể và dẫn tới việc khai thác và đánh bắt quá mức trong những vùng nước chung trên Biển Đông. Tỷ lệ đánh bắt cá bắt đầu giảm từ những năm 1970 cùng với sự giảm mạnh mẽ hơn được ghi nhận vào những năm 1980 khi tàu đánh cá bằng lưới rà đáy biển được đưa vào sử dụng rộng rãi.

Sự giảm sút trong ngành cá không chỉ thể hiện rõ ở tỷ lệ đánh bắt giảm mà còn thể hiện ở kích cỡ cá nhỏ hơn và các hoạt động thị trường cũng làm giảm chuỗi thức ăn từ những loài cá lớn có giá trị cao như cái ngừ, cá mú, cá hồng sang các loại cá nhỏ hơn với giá trị thấp hơn như cá trích, cá mòi và cá thu. Nuôi trồng thủy sản và các sản phẩm thay thế khác đã mở rộng đáng kể trong khu vực, làm giảm áp lực đánh bắt. Tuy nhiên, nuôi trồng thủy sản cho mục đích thương mại, toàn diện và trên quy mô lớn mới diễn ra gần đây và vẫn chưa rõ rằng liệu khả năng bền vững của nó như thế nào.

Các quốc gia với bờ biển rộng lớn tiếp giáp với biển như Indonesia, Malaysia, Việt Nam, Philippine và Trung quốc muốn bảo vệ chủ quyền và quyền kiểm soát tài nguyên của mình trong Vùng đặc quyền kinh tế kéo dài trong phạm vi 200 hải lý ngoài đường bờ biển của mình. Tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ đối với các hải đảo, rạn san hô trên Biển Đông đặc biệt quan trọng như một cơ sở cho việc khẳng định Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) quanh các đảo bị tranh chấp và tài nguyên dầu mỏ và khí tự nhiên được cho là có trên các đảo này.

Điều này dẫn đến những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ mâu thuẫn và trùng lặp nhau. Ví dụ như, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa trong khi Malaysia, Brunei và Philippine tuyên bố chủ quyền với một phần quần đảo. Khoảng 45 hải đảo đang bị chiếm giữ bởi lực lượng nhỏ quân đội của Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam (Xem bản đồ 1). Khung pháp lý quốc tế về việc sử dụng tài nguyên trên Biển Đông được đưa ra bởi Công ước LHQ về Luật biển.

Công ước kêu gọi việc thành lập các khu vực quản lý nguồn tài nguyên chung và đưa ra những hướng dẫn thực hiện, thậm chí ở cả những nơi mà tuyên bố chủ quyền lãnh thổ có mâu thuẫn chưa được giải quyết. Ví dụ như, điều 61 của Công ước LHQ về Luật biển yêu cầu các quốc gia phải giám sát việc đánh bắt cá của mình liên quan đến sản lượng đánh bắt bền vững cả về môi trường và kinh tế. Điều 116-119 đưa ra những thỏa thuận tạm thời cho việc quản lý nguồn tài nguyên chung ở các khu vực bị tranh chấp.



Các phong trào bảo tồn

Địa chất và khí hậu đã kết hợp để sản sinh ra một lượng đáng kể đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cho vùng Biển Đông. Biển Đông bao gồm các quần đảo lớn, hải đảo, và bán đảo, vô số các rạn san hô, gió mùa đổi hướng theo mùa, và các dòng hải lưu ngầm, tất cả kết hợp tạo nên những điều kiện thuận lợi đặc biệt cho một hệ sinh thái biển màu mỡ.

Hơn 30% các rạn san hô trên thế giới tiếp giáp biển Đông, đặc biệt là xung quanh các quần đảo Indonesia và Philippine. San hô là cơ sở của chuỗi thức ăn thủy sản, chúng cung cấp môi trường sống cho sự đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới. Chúng cũng hỗ trợ vài nghìn loài sinh vật khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm ảnh hưởng của sóng lên các bãi biển, từ đó giảm sự xói mòn. Đáy biển nông và bằng phẳng của Biển Đông là một trong những ngư trường năng suất nhất trên thế giới.

Có nhiều phong trào bảo tồn quanh vùng Biển Đông, mỗi phong trào này đều có sự pha trộn đặc trưng nhấn mạnh vào các khía cạnh khoa học, kỹ thuật, giáo dục, đào tạo, xây dựng chính sách, và thực hiện. Những biện pháp đơn phương được thực hiện bởi các chính phủ đơn lẻ bao gồm việc khuyến khích nuôi trồng thủy sản và canh tác cá, thành lập các khu vực bảo tồn biển, và áp đặt các lệnh cấm đánh cá. Những biện pháp đa phương từ những nỗ lực lớn và đầy tham vọng của Chương trình môi trường LHQ/Chương trình môi trường toàn cầu (UNDP/GEF) trên biển Đông cho tới những thoải thuận chuyên sâu và mang tính phân định hơn như Hiệp định về Quản lý nguồn tài nguyên chung Trung-Việt ở Vịnh Bắc Bộ.

Có lẽ những nố lực đa phương tham vọng nhất có ảnh hưởng đến sự quản lý thủy sản khu vực chính là dự án UNEP/GEF về Đảo ngược sự suy thoái môi trường trên Biển Đông và Vịnh Thái Lan. Vào tháng 3 năm 2001, tất cả các quốc gia ven biển đã gác những tuyên bố lãnh thổ đầy cạnh tranh sang một bên và ký một thỏa thuận để bảo vệ môi trường biển chung của mình. Mục tiêu cuối cùng là để thành lập "khu tị nạn" - khu bảo tồn cá- bao gồm những sinh cảnh biển vô cùng quan trọng trên Biển Đông, được bảo vệ khỏi việc khai thác quá mức nhờ một hệ thống quản lý thủy sản đa phương bao gồm các chính phủ thành viên.

Một nỗ lực lớn về giáo dục đang được thực hiện để cho các bên có liên quan thấy được sự suy thoái hiện tại của Biển Đông và thuyết phục họ về tầm quan trọng của việc quản lý tài nguyên bền vững. Tuy nhiên, tiến bộ hữu hình trong việc thay đổi suy thoái môi trường đang diễn ra chậm chạp.

Thỏa thuận toàn cầu liên kết đầu tiên hướng tới việc đánh bắt cá triệt để là Hiệp định Dự trữ cá của LHQ năm 1995. Hiệp định này đã làm tăng lên một lượng lớn các tổ chức quản lý thủy sản khu vực (RFMOs) để đối phó với việc khai thác quá mức trữ lượng cá có giá trị cao và có tính di động lớn, hay di chuyển qua lại giữa các ranh giới của các Vùng đặc quyền kinh tế. Tổ chức quản lý thủy sản đầu tiên ở khu vực là Công ước về bảo tồn và quản lý Trữ lượng cá có tính di cư cao ở biển Tây và Trung Thái Bình Dương (WCPO). Các cuộc đàm phán bao gồm 28 quốc gia xung quanh Biển Đông và các quốc đảo Thái Bình Dương liền kề, tất cả đều tích cực tham gia vào việc quản lý bền vững đối với ngành thủy sản cá ngừ.

Thủy sản cá ngừ của biển Tây và Trung Thái Bình Dương là lớn nhất và có giá trị lớn nhất trên thế giới, bao gồm trữ lượng cá ngừ vằn, cá ngừ vân, cá ngừ vàng, và cá ngừ mắt to. Biển Tây và Trung Thái Bình Dương hàng năm cung cấp khoảng một nửa số lượng đánh bắt cá ngừ trên toàn thế giới, bao gồm cá ngừ đóng hộp cho thị trường thế giới và thị trường cá sống (sashimi) đầy hấp dẫn của Nhật Bản. Hầu hết cá ngừ di cư rộng rãi trên khắp khu vực này, tuy nhiên có khoảng 70% tổng sản lượng được đánh bắt trong các Vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển. Các quốc gia đánh bắt cá xa bờ như Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan và Hàn Quốc với đội tàu đánh bắt cá ngừ tiên tiến chiếm hầu hết sản lượng đánh bắt cá ngừ và trả lệ phí khai thác cao để được tiếp cận vùng biển trong Vùng đặc khu kinh tế của khu vực.

Tất cả những nỗ lực liên chính phủ đều mang tính tự nguyện cao nhằm khuyến khích sự tham gia rộng rãi. Những nỗ lực này đã tạo ra một lượng lớn thông tin, giáo dục, đào tạo, kế hoạch và giám sát thông qua hoạt động của mình. Tuy nhiên, với phạm vi rộng lớn của các chính phủ tham gia, năng lực và mối quan tâm khác nhau và quá ít sự thực hiện nghiêm ngặt hoặc tôn trọng các yêu cầu, các tổ chức đa phương cho đến nay chỉ đạt được hiệu quả hạn chế trong việc thực hiện quản lý thủy bền vững. Các yếu tố kinh tế và thương mại cho đến nay đã thay thế phong trào bảo tồn đối với ngành thủy sản bền vững.

Những phong trào về an ninh

Biển Đông là một trong những vùng biển nhộn nhịp nhất trên thế giới. Hơn một nửa số thương thuyển (tính theo trọng tải) đi qua Biển Đông hàng năm. Hơn một nửa lưu lượng tàu chở dầu trên thế giới di chuyển qua vùng biển của khu vực này. Hơn một nửa trong số mười cảng vận chuyển hàng đầu trên thế giới nằm trên hoặc xung quanh Biển Đông. Đối với những quốc gia định hướng xuất khẩu nhưng nhập khẩu năng lượng của Đông Á, Biển Đông là một mạch vận tải chính cho việc xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu năng lượng thiết yếu. Biển Đông đang trở thành trung tâm của cuộc cách mạng công nghiệp Châu Á (Xem hình 1)


Biển Đông cũng là một liên kết hàng hải chiến lược giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Đối với các cường quốc hàng hải, tự do hàng hải thông qua các tuyến đường biển của Biển Đông là hết sức quan trọng đối với đội tàu hải quân của họ. Các quốc gia có vận chuyển và lợi ích của hải quân lớn như Hoa Kỳ và Nhật Bản chủ yếu là muốn duy trì tự do hàng hải qua eo biển và tuyến đường biển của Biển Đông cho tàu chở dầu, tàu container, tàu hải quân của họ. Mỹ sẽ gửi tàu chiến của mình, bao gồm tàu sân bay của Hạm đội Thái Bình Dương, qua Biển Đông để hỗ trợ cho các sứ mệnh quân sự của họ ở biển Ả Rập và vùng Vịnh Ba Tư. Đây là đường giao thông huyết mạch trọng yếu kết nối Nhật Bản với các nhà cung cấp năng lượng Trung Đông




Khối lượng tàu bè qua lại lớn trong khu vực Biển Đông đã tạo ra cơ hội cho các cuộc tấn công vào các tàu thương mại. Hơn hai thập kỷ qua, hơn một nửa báo cáo trên thế giới về cướp biển diễn ra trên hoặc xung quanh Biển Đông. Do ảnh hưởng của cướp biển và hâụ khủng bố 9/11, đã có sự giám sát quốc tế tăng cường đối với các cảng và các container vận chuyển bằng đường biển. Các nước ven biển có nhiều mối quan tâm an ninh khác, bao gồm cả những xung đột thường xuyên liên quan đến đến các tàu đánh cá cạnh tranh các nguồn cá đang dần cạn kiệt, cũng như việc buôn bán ma túy, người tị nạn và lao động cưỡng bức.

Do ảnh hưởng của tất cả những mối lo ngại an ninh này, đã có sự giám sát quốc tế tăng cường đối với các tuyến đường biển, cảng, và các container vận chuyển đường biển. Các nước ven biển đang hiện đại hóa hải quân và lực lượng bảo vệ bờ biển và các đội tuần tra để bảo đảm an toàn tuyến đường biển cũng như nguồn tài nguyên biển của mình. Do đó, các hoạt động thu thập tình báo và quân đội của một số quốc gia đang ngày càng sâu sắc, mang tính xâm nhập, gây tranh cãi, và nguy hiểm.

Còn tiếp...

  • Theo Nghiên cứu Biển Đông

Bản gốc tiếng Anh "GOVERNING THE SOUTH CHINA SEA: From Freedom of the Seas To Enclosure Movements" Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề "The Disputed Sea - Maritime Security in East Asia" tháng 12/2010


[1] David Rosenberg là Giáo sư Khoa học Chính trị, Trường Middlebury, Vermont; Nghiên cứu viên mời, Trường Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương, Đại học Quốc gia Australia; và Biên tập viên trang www.southchinasea.org

[2] Caitlin Arnold, Middlebury, năm 2011, được cám ơn sâu sắc vì những hỗ trợ nghiên cứu quý giá của cô.

[3] Một thư mục toàn diện hiện hành có chú giải về Hội nhập Đông Á được cung cấp bởi Tiến sĩ Bernhard Seliger trong cuốn "Recent Bibliography of East Asian Regionalism and Intergration" (2007-2010), truy cập tại trang www.asianintegration.org

Đừng hoang tưởng về một thế giới phẳng


Thế giới cũng sẽ KHÔNG phẳng sau sự lan tỏa toàn cầu của mạng lưới Internet. Thế giới sẽ vẫn là thế giới ta đã quen biết suốt 5,000 năm lịch sử: rất nhiều cách biệt giữa các tầng lớp xã hội: giàu và nghèo, học thức và vô học, đạo đức và bất lương, thôn quê và thành thị, quốc gia phát triển và quốc gia nghèo đói. Nhưng công nghệ thông tin lại có khả năng làm gia tăng sự cách biệt này:...

Các chính trị gia và các chuyên gia thường thích dùng các danh từ thời thượng để phô trương tri thức về thế giới và tạo ấn tượng trong cộng đồng. Gần đ

ây, họ hay nói đến các ngôn từ nhưkinh tế sáng tạo, mạng xã hội, hội nhập toàn cầu, công nghệ xanh, kỹ thuật số, chỉ số hạnh phúc... Nhưng một chữ bị lạm dụng nhiều nhất có lẽ là "thế giới phẳng".

Danh từ này được Thomas Friedman dùng làm đề tài cho một tựa sách vào 2005 để diễn tả một hiện tượng mới về xã hội và kinh tế do cuộc cách mạng Internet và công nghệ thông tin (IT) mang lại. Giả thuyết của ông là sự lan tỏa cùng khắp những thông tin và kiến thức nhanh chóng qua Internet đã san bằng mọi cách biệt về lợi thế kinh tế giữa các quốc gia, giữa các thể chế chính trị, và giữa các tầng lớp nhân dân. Kết quả là một thế giới phẵng lì, không còn rào cản vả bất cứ ai cũng có thể nắm bắt những cơ hội mới do công nghệ mới tạo dựng.

Tôi đã theo dõi nhiều bài viết của Friedman

trên New York Times, tờ báo của giới mệnh danh là "tiến bộ" (liberal) của các trí thức khoa bảng Mỹ. Ông này có tật xấu là đơn giản hóa mọi vấn đề, rồi dựa trên một vài sự kiện đặc thù mà đặt ra các giả thuyết khá phi lý, phù hợp với quan điểm cá nhân của mình. Ông luôn quên đi sự phức tạp của mọi vấn đề bàn luận, dù là xã hội, kinh tế hay chính trị, dù là địa phương hay toàn cầu. Thế giới phẳng và một xã hội đại đồng bình đẳng là một hoang tưởng rất thời thượng của ông.

Vào khoảng 1885, Karl Benz sáng chế ra chiếc xe hơi hiện đại thay thế cho cỗ xe ngựa và cùng thời điểm, James Maxwell đưa ra lý thuyết để thế giới có được máy phát thanh (radio). Nếu ông sinh ra ở thời này, Friedman cũng sẽ dễ dàng đưa ra lập luận về một "thế giới phẳng" vì hai phát minh này cũng đã đem nhân loại đến gần nhau hơn. Thế nhưng, sau đó, ai cũng biết thế giới đã KHÔNG phẳng với những sáng chế diệu kỳ về xe hơi, về radio, về TV, về máy in... Tôi cũng xin báo cho các bạn trẻ là thế giới cũng sẽ KHÔNG phẳng sau sự lan tỏa toàn cầu của mạng lưới Internet.

Máy tính, Internet, điện thoại di động và các dụng cụ công nghệ thông tin quả đã tạo nên một cách mạng vĩ đại về kiến thức và thông tin với tốc độ, tầm cỡ và chức năng. Nhưng thế giới sẽ vẫn là thế giới ta đã quen biết suốt 5,000 năm lịch sử: rất nhiều cách biệt giữa các tầng lớp xã hội: giàu và nghèo, học thức và vô học, đạo đức và bất lương, thôn quê và thành thị, quốc gia phát triển và quốc gia nghèo đói. Thực sự, công nghệ thông tin lại có khả năng làm gia tăng sự cách biệt này: người biết sử dụng IT sẽ khôn khéo dùng lợi thế cạnh tranh này của mình để kiếm tiền, kiếm quyền và đặc lợi nhiều hơn so với đám đông còn bỡ ngỡ.

Sự yêu thích hình tượng và viễn ảnh của một thế giới phẳng có lẽ bắt nguồn từ sự ao ước của rất nhiều nhà trí thức trẻ (trong đó có người viết bài này) với một con tim tha thiết về một xã hội công bằng, không có khác biệt giữa giàu nghèo, giai cấp hay phân khúc. Một thế giới đại đồng của những người bình đẳng về mọi khả năng và quyền lợi. Cuộc thí nghiệm vĩ đại nhất lịch sử đã diễn ra ở Liên xô và Trung Quốc hơn 70 năm. Ngày nay, tại hai xã hội này, sự cách biệt về giàu nghèo (theo chỉ số Gini) thuộc loại cao nhất trong 10 hạng đầu của thế giới (Top Ten).

Rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức và các bậc khoa bảng luôn luôn ta thán về hiện tượng bất công của xã hội, thường kết luận trong vội vã "đời không công bằng chút nào" khi so sánh sự thua kém của mình với những nhân vật mà họ nghĩ là không xứng đáng. Chính tôi cũng hay rơi vào trường hợp tự ti này khi không để lý trí suy xét.

Vào thời điểm 1968 sau khi tốt nghiệp Đại học ở Mỹ, tôi và một người bạn người Mã Lai tên là Michael cùng quay trở về nước. Trong khi tôi chật vật với lương giảng viên ở Đại Học Bách Khoa Phú Thọ, Michael được ông bố, vốn là một đại gia tăm tiếng ở Mã Lai, mua cho một ngân hàng rồi bổ nhiệm hắn làm Chủ Tịch TGĐ một ngân hàng đứng hàng thứ 8 ở Mã Lai vào thời đó. Ngay cả suốt cuộc đời 2 đứa trong 42 năm qua, trong khi tôi phải lên voi xuống ngựa, đi từ đỉnh cao của thịnh vượng đến vực thẳm của nghèo khó, Michael vẫn ung dung tự tại sống đời thượng lưu, thành công từ việc làm ngân hàng đến tạo dựng một đế quốc về địa ốc. Sau này, mỗi lần qua chơi, tôi vẫn rất ghen tỵ, chép miệng, "đời thật bất công".

Một người bạn khác ở VN cùng tôi mài ghế suốt 4 năm trung học. Anh ta tên Duy và là thần tượng của tôi hồi đó. Học giỏi, đẹp trai, con nhà giàu, nhưng trên hết, có một hạnh kiểm hoàn toàn, luôn luôn được bầu là trưởng lớp bởi các học trò và thầy cô. Ai cũng ngưỡng mộ. Anh thường ái ngại nhìn tôi bỏ lớp trốn học, đi tán gái, chọc phá làng xóm, và nói nếu không thay đổi tính nết, tương lai của tôi sẽ chìm sâu trong đống bùn. Tôi luôn luôn đồng ý, nhưng đã không bỏ được những thói quen xấu. Xong Tú Tài, anh thi đậu vào Đại Học Sư Phạm dễ dàng và trở thành một bậc thầy khả kính sau những năm học hành. Còn tôi, may mắn được học bổng Mỹ, bay đi tận nữa vòng trái đất, loay hoay làm lại đời mình. Một lần về thăm nhà năm 1992, Viện Đại học Cần Thơ mời tôi giảng dạy một buổi về Kinh Tế Mở Cửa của TQ cho các học sinh cũng như nhiều vị giáo chức tu nghiệp. Tôi ngỡ ngàng gặp lại Duy, thay đổi thứ bậc trong liên hệ thầy-trò. Anh ngượng ngùng, bỏ ngang lớp học sau tiết đầu và không trả lời điện thoại khi tôi kêu. Bạn bè cho biết hôn nhân của anh trắc trở, anh buồn đời làm một con sâu rượu giải sầu, và bị cấp trên "đầy đọa" vì nhiều lần say rượu trong lớp học. Tôi chắc Duy cũng đang nghĩ thầm, "đời thật bất công".

Cách nay ba tháng, một đại gia trẻ tuyên bố trong một buổi hội thảo là tương lai IT của VN sáng ngời, vì chỉ sau 10 năm, dân số VN có điện thoại di động bây giờ đã lên đến hơn 53 triệu người. Anh ta đồng hóa việc sỡ hữu một cái phone với trình độ kiến thức và hiệu năng của nền kinh tế sáng tạo, biểu hiện qua một công cụ IT phổ thông. Tôi có 2 người giúp việc nhà. Họ đều sở hữu điện thoại riêng cho cá nhân và nhờ những chương trình khuyến mãi, nói chuyện qua phone đến 4, 5 giờ mỗi ngày. Họ trao đổi liên tục với bạn bè, láng giềng, gia đình dưới quê về mọi chuyện lặt vặt, còn hơn Twitter của các siêu sao ở Hollywood. Thậm chí họ còn dùng điện thoại để chửi nhau, để khuyến nghị về số đề, về mua hụi, về chương trình kịch trên TV. Thậm chí, một bà đã gần 50 tuổi, có chồng và 4 đứa con ở quê, vẫn trả lời tất cả những cú phone từ người lạ, đóng vai trò một cô gái mới 20, đóng góp và giải tỏa các lời yêu thương ảo (như một loại phone sex rẻ tiền) cho rất nhiều bạn trai Việt.

Những bất công hay hố cách biệt vừa kể cũng có thể là do sự lựa chọn và sở thích của cá nhân. Năm trăm năm trước, ngài Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ca tụng chữ "nhàn" và lối sống điền viên, "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người đến chốn lao xao". Nếu ta bắt ông phải sống trong một Net café, cạnh Ngã Sáu Chợ Lớn, nhìn khói bụi, dòng xe và biển người qua lại, chắc ông phải khóc tủi thân mỗi ngày. Còn nếu ai buộc tôi phải xa rời các trung tâm tài chính thế giới như New York, Luân Đôn hay Hồng Kông... để về sống ở xứ Cà Mau với những cánh đồng bất tận của chị Nguyễn Ngọc Tư chắc tôi cũng hóa điên. Dù tôi biết chỗ đậu xe ở Cà Mau không thể tốn 40 dollars mỗi ngày như New York.

Trong chuỗi hội thảo về đầu tư cho các doanh nhân và sinh viên Việt Nam vào tháng 3 vừa qua, tôi nói nhiều về Zuckerberg của Facebook. Anh chàng sinh viên 24 tuổi này đã bắt đầu với một ý tưởng và 1 ngàn dollars của bạn cùng phòng; và chỉ trong 4 năm tạo nên một tài sản mà Goldman Sachs đánh giá là 60 tỷ dollars; tương đương với 60% GDP của Việt Nam. Trong số 80 triệu dân hiện tại, có người Việt nào sẽ đứng lên đáp lời sông núi để chứng minh là thế giới đã phẳng như Friedman nói; hay chúng ta sẽ lại có thêm vài khẩu hiệu rẻ tiền về sáng tạo?

Thursday, March 31, 2011

TQ sắp qua mặt Hoa Kỳ trong lãnh vực nghiên cứu khoa học

Một cuộc nghiên cứu mới cho thấy Trung Quốc có thể sẽ qua mặt Hoa Kỳ vào năm 2013 để trở thành nước có nhiều thành quả nghiên cứu khoa học nhất thế giới. Theo kết quả cuộc nghiên cứu do Hội Hoàng gia Anh loan báo trong tuần này, Trung Quốc đã qua mặt nước Anh để trở thành nước có kết quả nghiên cứu khoa học được công bố nhiều hàng thứ nhì thế giới. Cuộc nghiên cứu còn cho biết những nước khác thuộc thế giới đang phát triển, trong đó có Brazil, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, đanh nhanh chóng đuổi kịp các nước lâu nay vẫn chiếm vị trí hàng đầ
u trong lãnh vực nghiên cứu ở Bắc Mỹ, Âu Châu và Nhật Bản. Cuộc nghiên cứu cho thấy Hoa Kỳ hiện nay công bố khoảng 21% kết quả nghiên cứu khoa học trên thế giới, so với khoảng 26% trước năm 2003. Trong cùng thời gian này Trung Quốc đã từ hạng 6 vượt lên hạng nhì - với tỉ lệ chưa đầy 5% tăng lên tới hơn 10%. Nhật Bản và Đức cũng nằm trong 5 nước đứng đầu. Những người thực hiện cuộc khảo sát này nói rằng sự trỗi dậy của các nước mới trong lãnh vực nghiên cứu làm gia tăng mối hy vọng tìm ra những giải pháp để ứng phó với những thách thức to lớn của thế giới. Tuy nhiên họ cũng nói rằng các cường quốc kinh tế thế giới hiện nay sẽ đánh mất ưu thế nếu không tiếp tục dẫn đầu trong lãnh vực nghiên cứu khoa học.
Nguồn: VOA

Làm đẹp với "gương thần"

(TNO) Đa số chị em phụ nữ phải trải qua cảnh mua mỹ phẩm về nhà rồi “ngậm ngùi” khi phát hiện chúng không làm cho họ đẹp ra mà chỉ biến họ thành “diễn viên hề”. Nhưng giờ đây, một tấm gương trang điểm ảo có thể giúp họ tránh được tình huống nói trên.

Theo báo Daily Mail, phát minh của hãng mỹ phẩm Shiseido (Nhật Bản) cho phép người sử dụng trang điểm hoàn chỉnh hình ảnh khuôn mặt mình trong gương chỉ trong vài giây, thử hàng trăm loại mỹ phẩm chỉ trong ít phút và có thể “tẩy trang” ngay trên gương ngay sau đó.

Ban đầu, camera trên gương sẽ ghi lại đặc điểm gương mặt của khách hàng, bao gồm những vị trí mắt, mũi và miệng. Trên màn hình cảm ứng của gương có hơn 50 màu mắt, son môi khác nhau, 12 màu phấn hồng, màu đồng... để người sử dụng thoải mái lựa chọn.


“Gương thần” giúp phụ nữ trang điểm đẹp hơn - Ảnh: Daily Mail

Bạn chỉ việc dùng bút kỹ thuật số để chọn màu mà mình yêu thích và thoải mái trang điểm thử cho khuôn mặt trên gương. Những hình ảnh này là bản sao hoàn chỉnh của bạn. Nếu bạn nheo mắt, khẽ lắc đầu để xem màu phấn hồng mới ra sao, hình ảnh của bạn trên gương cũng sẽ hành động tương tự.

Sau khi tìm được kiểu trang điểm ưng ý, người dùng có thể chụp lại ảnh gương mặt của mình trên gương. Gương có thể lưu lại nhiều kiểu hình khác nhau để người sử dụng so sánh những diện mạo khác nhau của mình và chọn kiểu phù hợp nhất.

Quyên Quân- tuoitre

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More